Tìm hiểu quy định của pháp luật Quốc tế về bắt, tạm giữ, tạm giam
B |
ắt, tạm giữ, tạm giam luôn là vấn đề nhạy cảm trong đời sống chính trị, xã hội của mỗi quốc gia, đây là các biện pháp ngăn chặn ảnh hưởng trực tiếp đến các quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do về thân thể đã được pháp luật quốc tế tôn trọng và bảo vệ. Tuy nhiên, về vấn đề bắt, tạm giữ, tạm giam trong pháp luật quốc tế hiện nay vẫn chưa có những quy định cụ thể, riêng biệt mà vấn đề này chỉ được xác định qua một số văn bản pháp lý quốc tế có liên quan. Trong nội dung bài viết này, chúng tôi xin đề cập và trao đổi về một số quy định bắt, tạm giữ, tạm giam trong một số văn bản pháp lý quốc tế đang có hiệu lực hiện nay.
Thứ nhất, một số quy định chung về biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam trong các điều ước quốc tế đa phương.
Tuyên ngôn về Nhân quyền (Tuyên ngôn Nhân quyền) là một tuyên bố được thông qua tại Đại hội đồng Liên Hợp quốc vào ngày 10/12/1948 tại Palais de Chaillot ở Paris. Đây được coi là một văn bản pháp lý quốc tế quan trọng để xác định các quyền cơ bản của con người được tôn trọng và bảo vệ trong đó có quyền tự do về thân thể, là cơ sở đầu tiên để các quốc gia thành viên có thể áp dụng các quy định của pháp luật đối với một cá nhân, trong đó có việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người phạm tội trong hoạt động tố tụng hình sự. Quyền được bảo vệ để khỏi bị bắt, giam giữ tùy tiện trước hết được quy định trong Điều 9 Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế (UDHR), trong đó nêu rằng: “Không một ai bị bắt bớ, cầm tù hay lưu đày một cách độc đoán”.*
Ngày 16 tháng 12 năm 1966, Đại hội đồng Liên Hợp quốc đã thông qua Công ước về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), tại Điều 9 của công ước này đã cụ thể hóa Điều 9 của Tuyên ngôn Nhân quyền quốc tế về việc bảo vệ quyền tự do và bất khả xâm phạm về thân thể của con người bằng những quy định khá chi tiết, theo đó: Mọi người đều có quyền được hưởng tự do và an toàn cá nhân; không ai bị bắt hoặc bị giam giữ vô cớ; không ai bị tước quyền tự do trừ trường hợp việc tước quyền đó là có lý do và theo đúng những thủ tục mà luật pháp đã quy định. Bất cứ người nào bị bắt giữ đều phải được thông báo vào lúc bị bắt về những lý do họ bị bắt và phải được thông báo không chậm trễ về sự buộc tội đối với họ. Bất cứ người nào bị bắt hoặc bị giam giữ vì một tội hình sự phải được sớm đưa ra toà án hoặc một cơ quan tài phán có thẩm quyền thực hiện chức năng tư pháp và phải được xét xử trong thời hạn hợp lý hoặc được trả tự do; việc tạm giam một người trong thời gian chờ xét xử không được đưa thành nguyên tắc chung, nhưng việc trả tự do cho họ có thể kèm theo những điều kiện để bảo đảm họ sẽ có mặt tại toà án để xét xử vào bất cứ khi nào và để thi hành án nếu bị kết tội. Bất cứ người nào do bị bắt hoặc giam giữ mà bị tước tự do đều có quyền yêu cầu được xét xử trước toà án, nhằm mục đích để toà án đó có thể quyết định không chậm trễ về tính hợp pháp của việc giam giữ và ra lệnh trả lại tự do cho họ, nếu việc giam giữ là bất hợp pháp. Bất cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam giữ bất hợp pháp đều có quyền được yêu cầu bồi thường.
Ngoài những nội dung đã được nêu cụ thể như trên, trong Bình luận chung số 8 thông qua tại phiên họp lần thứ 16 năm 1982, Ủy ban Nhân quyền (HRC) đã giải thích thêm một số nội dung có liên quan đến Điều 9 của công ước này, có thể tóm tắt những điểm quan trọng như sau: Quyền tự do và an toàn cá nhân được áp dụng cho tất cả những người bị tước tự do, kể cả các trường hợp do phạm tội hay do bị tâm thần, lang thang, nghiện ma tuý, hay để nhằm các mục đích giáo dục, kiểm soát việc nhập cư... Thời hạn tạm giữ, tạm giam phụ thuộc vào pháp luật của các quốc gia thành viên, tuy nhiên, theo Ủy ban, thời hạn tạm giữ không nên vượt quá vài ngày, còn thời hạn tạm giam cần phù hợp với hai quy tắc: Bị can, bị cáo phải được xét xử trong thời gian hợp lý hoặc được trả tự do và việc tạm giam chỉ được coi là ngoại lệ và với thời gian càng ngắn càng tốt. Trong trường hợp sử dụng tạm giữ, tạm giam như là một biện pháp ngăn chặn, việc này không được tiến hành một cách tùy tiện mà phải dựa trên các trình tự, thủ tục được luật pháp qui định, đồng thời phải bảo đảm quyền được thông tin của bị can, quyền được toà án quyết định tính hợp pháp của việc giam giữ, quyền được yêu cầu bồi thường của bị can, bị cáo trong trường hợp oan sai.
Công ước Viên 1961 về quan hệ ngoại giao được thông qua ngày 18 tháng 4 năm 1961 tại Hội nghị Viên của Liên hợp quốc về quan hệ ngoại giao và miễn trừ ngoại giao. Công ước bao gồm lời mở đầu và 51 điều khoản, phần lớn nội dung của Công ước nói về quyền ưu đãi, miễn trừ ngoại giao trong đó xác định: “Thân thể của viên chức ngoại giao là bất khả xâm phạm. Họ không thể bị bắt hoặc bị giam giữ dưới bất cứ hình thức nào…” (Điều 29). Ngoài ra, các thành viên gia đình của viên chức ngoại giao cùng sống chung với người đó, nếu không phải là công dân nước tiếp nhận; các nhân viên hành chính và kỹ thuật của cơ quan đại diện cũng như các thành viên gia đình cùng sống chung với họ, nếu không phải là công dân nước tiếp nhận hoặc không có nơi cư trú thường xuyên ở nước này được hưởng những quyền ưu đãi và miễn trừ như viên chức ngoại giao; các nhân viên phục vụ của cơ quan đại diện không phải là công dân nước tiếp nhận hoặc không có nơi cư trú thường xuyên ở nước này được hưởng những quyền miễn trừ đối với những hành vi trong khi thi hành chức năng của họ. Như vậy, theo quy định của pháp luật quốc tế, đối với những người có thân phận ngoại giao cũng như thành viên gia đình của họ sẽ không bị bắt, tạm giữ, tạm giam khi họ thực hiện hành vi phạm tội trên lãnh thổ quốc gia mà họ đang thực thi nhiệm vụ.
Công ước Viên 1963 về quan hệ lãnh sự được thông qua ngày 24 tháng 4 năm 1963 quy định về quyền ưu đãi, miễn trừ lãnh sự đối với viên chức lãnh sự. Tại Điều 41 của công ước xác định: “Viên chức lãnh sự không bị bắt hay bị tạm giam chờ xét xử, trừ trường hợp phạm tội nghiêm trọng và theo quyết định của cơ quan tư pháp có thẩm quyền”. Theo như quy định của công ước thì không như viên chức ngoại giao, viên chức lãnh sự cũng có thể bị bắt, tạm giữ, tạm giam trong trường hợp phạm tội nghiêm trọng theo quy định của nước sở tại và trong trường hợp bắt hoặc tạm giam chờ xét xử hoặc truy tố về hình sự một cán bộ nhân viên biên chế cơ quan lãnh sự, nước tiếp nhận phải nhanh chóng thông báo cho người đứng đầu cơ quan lãnh sự. Nếu chính bản thân người đó là đối tượng của một biện pháp như vậy, thì nước tiếp nhận phải thông báo cho nước cử qua đường ngoại giao.
Thứ hai, bên cạnh việc quy định cụ thể về bắt, tạm giữ, tạm giam nhằm bảo vệ và tôn trọng quyền tự do, bất khả xâm phạm về thân thể của con người trong các điều ước đa phương như Tuyên ngôn Nhân quyền và Công ước về các quyền dân sự và chính trị của con người thì vấn đề bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người phạm tội còn được thể hiện trong một số hoạt động cụ thể trong quan hệ quốc tế, đặc biệt là trong hợp tác quốc tế về đấu tranh và phòng chống tội phạm, thể hiện qua các điều ước song phương và đa phương mà các quốc gia tham gia và ký kết với nhau. Trong nội dung bài viết này, chúng tôi sẽ đề cập đến hai vấn đề là trường hợp bắt đối tượng truy nã quốc tế và tạm giữ để dẫn độ.
Một là, trong trường hợp tạm giữ để dẫn độ: Các hiệp định tương trợ tư pháp đều quy định là sau khi nhận được yêu cầu dẫn độ, nước được yêu cầu cần tiến hành những biện pháp cần thiết để truy tìm người phạm tội đang bỏ trốn và ra lệnh bắt giữ khi cần thiết. Theo quy định này thì các quốc gia chỉ được quyền bắt, tạm giữ đối tượng khi nhận được yêu cầu dẫn độ của một quốc gia khác. Tuy nhiên, trong trường hợp khẩn cấp, để kịp bắt giữ tội phạm, nước được yêu cầu có thể tạm giữ trước người bị yêu cầu dẫn độ khi chưa nhận được văn bản yêu cầu dẫn độ chính thức nhưng trước đó cần phải có đề nghị của nước yêu cầu và nước này bảo đảm chắc chắn là đã có lệnh bắt hoặc đã có bản án có hiệu lực pháp luật đối với đối tượng này và phải có đảm bảo chắc chắn của nước yêu cầu dẫn độ là những văn bản đó sẽ được gửi tới sau. Ngoài ra, các hiệp định còn quy định trong những trường hợp khẩn cấp chưa có đề nghị của nước ký kết kia, cũng có thể tạm giữ một người đang có mặt trên lãnh thổ nước mình nếu có tin tức về việc người đó đã thực hiện trên lãnh thổ nước ký kết kia một tội phạm đưa đến dẫn độ. Tất cả những trường hợp tạm giữ nói trên đều phải thông báo tạm giữ cho nước ký kết kia biết. Sau thời hạn quy định kể từ ngày thông báo việc tạm giữ cho nước ký kết kia, nước ký kết này không nhận được văn bản yêu cầu dẫn độ thì phải trả lại tự do cho người bị tạm giữ. Thời hạn này được quy định không giống nhau trong các hiệp định. Ví dụ như: Trong các hiệp định Việt Nam ký kết với Cộng hòa dân chủ Đức cũ, Tiệp Khắc thời hạn này là 2 tháng; các hiệp định ký với Liên Xô cũ, Cu Ba, Bungary, Cộng hòa dân chủ Lào, Liên bang Nga là 1 tháng; Hiệp định ký với Hungary là 40 ngày…
Hai là, bắt đối tượng truy nã quốc tế: Theo quy định của pháp luật quốc tế trong hoạt động truy nã tội phạm thì khi cần bắt giữ một đối tượng bị truy nã, Interpol sẽ ban hành “lệnh truy nã đỏ” và lệnh cho các quốc gia thành viên phải phối hợp truy nã hình sự các cá nhân phạm tội, tiến hành bắt giữ và chuyển giao tội phạm. “Lệnh truy nã đỏ” là quy ước truy nã phổ biến và nổi tiếng nhất, đồng thời đây cũng chính là giấy chứng nhận bắt giữ hình sự mang tính chất tạm thời cho phép các quốc gia thành viên được áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ đối với công dân nước ngoài trên lãnh thổ quốc gia của mình. Ngoài ra, theo các hiệp định tương trợ tư pháp song phương thì một quốc gia cũng có thể bắt giữ một công dân của nước khác bị truy nã đang lẩn trốn ở quốc gia của mình khi có yêu cầu của quốc gia tham gia hiệp định thông qua các văn phòng Interpol ở mỗi quốc gia. Đây vừa là quyền bắt giữ công dân nước ngoài, đồng thời cũng là nghĩa vụ phải thực hiện của các quốc gia tham gia các hiệp định quốc tế song phương và đa phương.
Đối với Việt Nam, với vai trò là một thành viên của Liên Hợp quốc, đã tham gia vào các công ước quốc tế nói trên, việc tuân thủ những quy định của pháp luật quốc tế về bắt, tạm giữ, tạm giam luôn là một vấn đề quan trọng, điều này cần được thể hiện bằng việc luật hóa cụ thể các quy định đó trong hệ thống pháp luật nước ta và vận dụng đúng đắn trong thực tiễn áp dụng pháp luật, đặc biệt là việc bắt, tạm giữ, tạm giam đối với những đối tượng là người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam./.

