Trang chủ | Khoa học hình sự | Diễn đàn pháp luật | Liên hệ | Sơ đồ site | English
 

Một số vấn đề về chương trình giáo dục và phát triển chương trình giáo dục bậc đại học

 


1. Chương trình giáo dục

Thuật ngữ “Chương trình giáo dục” hoặc “chương trình đào tạo” về giáo dục của tiếng Việt có hai nghĩa khác nhau, tương ứng với hai từ trong bảng từ vựng về giáo dục của tiếng Anh. Nghĩa thông thường được sử dụng là một văn bản quy định mục đích và các mục tiêu cụ thể đặt ra đối với một ngành đào tạo, các khối kiến thức và các môn học, tổng thời lượng cùng thời lượng dành cho mỗi môn mà nhà trường tổ chức giảng dạy để trang bị các kiến thức, kỹ năng, thái độ cần thiết cho sinh viên theo học một ngành nào đó. Nghĩa này tương đương với nội dung của thuật ngữ tiếng Anh “Curriculum”. Nghĩa thứ hai tương đương với nội dung của thuật ngữ “Program” trong tiếng Anh. Đó là “nội dung, cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ và các hoạt động học thuật của một đơn vị đào tạo đang triển khai để đào tạo một ngành học trong một bậc học nhất định, thường được ký hiệu bằng mã ngành”. Chương trình giáo dục xem xét ở đây được hiểu theo nghĩa thứ nhất.

Trong lịch sử phát triển của giáo dục, có ba cách tiếp cận phổ biến về chương trình giáo dục đó là cách tiếp cận nội dung, cách tiếp cận mục tiêu và cách tiếp cận phát triển.

Với quan niệm giáo dục là quá trình truyền thụ nội dung kiến thức, cách tiếp cận nội dung đưa ra định nghĩa: “Chương trình giáo dục là bản phác thảo về nội dung giáo dục qua đó người dạy biết mình cần phải dạy những gì và ng­ười học biết mình cần phải học những gì”. Theo cách tiếp cận này thì Ch­ương trình = Nội dung.

Cách tiếp cận mục tiêu, quan niệm giáo dục là công cụ để đào tạo nên các sản phẩm với các tiêu chuẩn đã đ­ược xác định sẵn. Vì vậy, chương trình giáo dục là một kế hoạch giáo dục phản ánh các mục tiêu giáo dục mà nhà tr­ường theo đuổi, nó cho biết nội dung cũng như phư­ơng pháp dạy và học cần thiết để đạt được mục tiêu đề ra. Theo cách tiếp cận này: Ch­ương trình = Nội dung + Mục tiêu + Ph­ương pháp.*

Theo quan niệm: chương trình giáo dục là quá trình, còn giáo dục là sự phát triển, cách tiếp cận phát triển cho rằng: Chương trình giáo dục là một bản thiết kế tổng thể cho một hoạt động giáo dục (có thể kéo dài một vài giờ, một ngày, một tuần hoặc vài năm). Bản thiết kế tổng thể đó cho biết toàn bộ nội dung giáo dục, chỉ rõ những gì có thể trông đợi ở người học sau khi học, nó phác họa ra quy trình cần thiết để thực hiện nội dung giáo dục, nó cũng cho biết các phương pháp giáo dục và các cách thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập và tất cả những cái đó được sắp xếp theo một thời gian biểu chặt chẽ.

Như vậy, tùy theo các quan niệm khác nhau của các cách tiếp cận để có khái niệm về chương trình giáo dục khác nhau. Có thể khái quát các khái niệm về chương trình giáo dục nêu trên như sau: “Chương trình giáo dục là một tập hợp của các hoạt động gắn kết với nhau nhằm đạt đến mục tiêu giáo dục của nhà trường”.

Định nghĩa về chương trình giáo dục theo Luật Giáo dục năm 2005 như sau: “Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hoặc trình độ đào tạo” (Điều 6).

Điều 41 Luật Giáo dục năm 2005 cũng quy định “Chương trình giáo dục đại học thể hiện mục tiêu giáo dục đại học; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học; bảo đảm yêu cầu liên thông với các chương trình giáo dục khác”.

Quan điểm về chương trình giáo dục đại học theo Luật Giáo dục năm 2005 còn được thể hiện rất rõ trong các quy chế của các loại hình đào tạo khác nhau, cụ thể như: Quy định về chương trình giáo dục đại học tại Điều 2 Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy (ban hành kèm theo Quyết định số 25/2006/QĐ-BGDĐT ngày 26/6/2006 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT); Điều 2, Quy chế đào tạo đại học và cao đẳng hình thức vừa làm vừa học (ban hành kèm theo Quyết định số 36/2007/QĐ-BGDĐT ngày 28/6/2007 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT); Điều 9, Quy chế đào tạo liên thông trình độ đại học, cao đẳng (ban hành kèm theo Quyết định số 06/2008/ QĐ-BGDĐT ngày 13/02/2008 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT).

Để có cái nhìn tổng thể, ngoài việc hiểu khái niệm về chương trình giáo dục nói chung, chương trình giáo dục đại học nói riêng, cần nắm vững các khái niệm về các thuật ngữ khác được sử dụng trong chương trình như sau:

* Khung chương trình:

Khung chương trình là văn bản của Nhà nước qui định khối lượng tối thiểu và cơ cấu kiến thức cho các chương trình. Khung chương trình xác định sự khác biệt về chương trình tương ứng với các trình độ đào tạo khác nhau.

* Chương trình khung (chuẩn chương trình):

Chương trình khung là văn bản Nhà nước ban hành cho từng ngành đào tạo cụ thể, trong đó quy định cơ cấu nội dung môn học, thời gian đào tạo, tỷ lệ phân bổ thời gian đào tạo giữa các môn cơ bản và chuyên môn; giữa lý thuyết với thực hành, thực tập.

Chương trình khung bao gồm khung chương trình và phần nội dung cứng, tức là những nội dung cốt lõi, chuẩn mực, tương đối ổn định theo thời gian và bắt buộc phải có trong chương trình đào tạo của tất cả các trường đại học và cao đẳng.

* Ngành và chuyên ngành đào tạo

Ngành đào tạo (ngành học) là một lĩnh vực khoa học, kỹ thuật hoặc văn hoá cho phép người học tiếp nhận những kiến thức và kỹ năng mang tính hệ thống cần có để thực hiện các chức năng lao động trong khuôn khổ của một nghề cụ thể; ngành đào tạo phải được ghi trong văn bằng tốt nghiệp.

Chuyên ngành đào tạo là sự đào sâu kiến thức và kỹ năng của người học trong những phần hẹp hơn của một ngành, hoặc là sự thu nhận kiến thức và kỹ năng khi xâm nhập từ một ngành này qua ngành mới khác chuyên ngành được ghi trong bảng kết quả học tập của người học khi tốt nghiệp.

* Phân biệt tên ngành và tên chương trình

Ngành đào tạo có số lượng giới hạn và tên của nó được gắn với danh mục ngành đào tạo hoặc với bảng phân loại chương trình đào tạo; ngành đào tạo được Nhà nước đặt tên và quản lý.

Chương trình đào tạo có số lượng không hạn chế, có thể gắn với một hoặc một số ngành đào tạo; chương trình đào tạo do Trường đặt tên và quản lý.

* Cấu trúc của chương trình giáo dục:

Cấu trúc của chương trình giáo dục đại học bao gồm các thành phần sau:

- Mục tiêu đào tạo;

- Nội dung đào tạo gồm hai khối kiến thức: Kiến thức giáo dục đại cương và kiến thức giáo dục chuyên nghiệp;

- Phương pháp hay quy trình đào tạo;

- Cách đánh giá kết quả đào tạo.

2. Phát triển chương trình giáo dục

Phát triển chương trình giáo dục là quá trình xác định và tổ chức toàn bộ các hoạt động được liệt kê để khẳng định sự đạt được mục tiêu và mong muốn của hệ thống giáo dục dựa trên một thiết kế hoặc một mô hình hiện hành. Quy trình phát triển chương trình giáo dục bao gồm 5 bước sau:

1. Phân tích tình hình;

2. Xác định mục đích chung và mục tiêu;

3. Thiết kế;

4. Thực thi;

5. Đánh giá.

Quá trình phát triển chương trình giáo dục cần phải được hiểu như một quá trình liên tục và khép kín, do đó 5 bước nêu trên không phải được sắp xếp thẳng hàng mà phải được xếp theo một vòng tròn.

Cách sắp xếp trên cho thấy rõ đây là một quá trình liên tục để hoàn thiện và không ngừng phát triển chương trình giáo dục, khâu nọ ảnh hưởng trực tiếp đến khâu kia, không thể tách rời từng khâu riêng rẽ hoặc không xem xét đến tác động hữu cơ của các khâu khác. Chẳng hạn, khi bắt đầu thiết kế một chương trình giáo dục cho một khóa học nào đó người ta thường phải đánh giá chương trình giáo dục hiện hành (khâu đánh giá chương trình giáo dục), sau đó kết hợp với việc phân tích tình hình cụ thể - các điều kiện dạy và học trong và ngoài trường, nhu cầu đào tạo của người học và của xã hội… (khâu phân tích tình hình) để đưa ra mục tiêu đào tạo của khóa học. Tiếp đến trên cơ sở của mục tiêu đào tạo mới xác định nội dung đào tạo, lựa chọn các phương pháp giảng dạy, phương tiện hỗ trợ giảng dạy, phương pháp kiểm tra, thi thích hợp để đánh giá kết quả học tập. Tiếp đến cần tiến hành thử nghiệm chương trình giáo dục ở qui mô nhỏ xem nó có thực sự đạt yêu cầu hay cần phải điều chỉnh gì thêm nữa. Toàn bộ công đoạn trên được coi như giai đoạn thiết kế chương trình giáo dục. Kết quả của giai đoạn thiết kế chương trình giáo dục sẽ là một bản chương trình giáo dục cụ thể, nó cho biết mục tiêu đào tạo, nội dung đào tạo, phương pháp đào tạo, các điều kiện và phương tiện hỗ trợ đào tạo, phương pháp kiểm tra, đánh giá kết quả học tập cũng như việc phân phối thời gian đào tạo.

Sau khi thiết kế xong chương trình giáo dục có thể đưa nó vào thực thi, tiếp đến là khâu đánh giá. Tuy nhiên, việc đánh giá chương trình đào tạo không phải chỉ chờ đến giai đoạn cuối cùng mà cần được thực hiện trong mọi khâu. Chẳng hạn, ngay sau khi thực thi có thể chương trình sẽ tự bộc lộ những nhược điểm của nó, hay qua ý kiến đóng góp của người học, người dạy có thể biết phải hoàn thiện nó như thế nào. Sau đó khi khóa đào tạo kết thúc (thực thi xong một chu kỳ đào tạo) thì việc đánh giá, tổng kết cả một chu kỳ này phải được đề ra. Người dạy, người xây dựng và quản lí chương trình giáo dục phải luôn tự đánh giá chương trình giáo dục ở mọi khâu qua mỗi buổi học, mỗi năm, mỗi khóa học để rồi vào năm học mới kết hợp với khâu phân tích tình hình, điều kiện mới sẽ lại hoàn thiện hoặc xây dựng lại mục tiêu đào tạo. Rồi dựa trên mục tiêu đào tạo mới, tình hình mới lại thiết kế lại hoàn chỉnh hơn chương trình giáo dục. Cứ như vậy chương trình giáo dục sẽ liên tục được đào tạo và phát triển không ngừng cùng với quá trình đào tạo.

Như vậy khái niệm “phát triển chương trình giáo dục” xem việc xây dựng chương trình là một quá trình chứ không phải là một trạng thái hoặc một giai đoạn tách biệt của quá trình đào tạo. Đặc điểm của cách nhìn nhận này là luôn phải tìm kiếm các thông tin phản hồi ở tất cả các khâu về chương trình giáo dục để kịp thời điều chỉnh từng khâu của quá trình xây dựng và hoàn thiện chương trình nhằm không ngừng đáp ứng tốt hơn với yêu cầu ngày càng cao về chất lượng đào tạo của xã hội. Với quan điểm của phát triển chương trình giáo dục, ngoài yêu cầu quan trọng là xây dựng chương trình cần phải có cái nhìn tổng thể bao quát toàn bộ quá trình đào tạo, cần lưu ý đảm bảo độ mềm dẻo cao khi soạn thảo chương trình: phải để cho người trực tiếp điều phối thực thi chương trình và người dạy có được quyền chủ động điều chỉnh trong phạm vi nhất định cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

Hoạt động phát triển chương trình giáo dục bắt đầu từ khâu xác định mục tiêu, xây dựng, thiết kế chương trình, tổ chức thực thi và đánh giá chương trình. Tuy có phân chia các bước khác nhau nhưng các bước này không thực hiện riêng rẽ, biệt lập mà nó quan hệ biện chứng, hòa quyện vào trong suốt quá trình phát triển chương trình và tổ chức đào tạo./.


     Đặng Văn Tám
* Thượng tá, Thạc sĩ, P. Trưởng phòng XDLL - Trường Đại học CSND
 
Hát mừng Trường Đại học CSND
30 năm thành lập Trường ĐH CSND
Tin khởi công xây dựng trường mới.