Đổi mới phương pháp dạy học - Một biện pháp nâng cao chất lượng đào tạo của trường Đại học Cảnh Sát Nhân Dân
Nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo đại học là một yêu cầu bức xúc của xã hội trong giai đoạn hiện nay ở nước ta. Việc Nhà nước quy định các trường đại học phải thực hiện sự kiểm định chất lượng thông qua biện pháp tự đánh giá và đánh giá ngoài để xác định vị trí và khả năng đào tạo của mình trong hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay càng khẳng định quyết tâm của Nhà nước ta trong việc không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo.
Từ lý do đó, lãnh đạo Bộ Công an và Trường Đại học Cảnh sát nhân dân (ĐHCSND) đã ban hành nhiều văn bản nhằm triển khai thực hiện những quy định của Nhà nước với mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo của các trường Công an nói chung và của Trường ĐHCSND nói riêng. Trong đó vấn đề đổi mới phương pháp dạy học (ĐMPPDH) của giảng viên nhà trường thực sự là một biện pháp có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng đào tạo ở trường ĐHCSND.
I. Đánh giá thực trạng hoạt động ĐMPPDH
Trong nhiều năm qua, vấn đề ĐMPPDH đã được chúng ta quan tâm, nhiều giảng viên đã đầu tư cho bài giảng của mình để có chất lượng cao. Nhiều phương tiện khoa học, kỹ thuật đã được sử dụng trong dạy học, qua đó các hình ảnh, sơ đồ, biểu mẫu, phim giáo khoa đã được trình chiếu làm cho phương pháp giảng dạy sinh động, tạo sự hứng thú trong học tập của sinh viên. Những phương pháp này đã đổi mới các phương pháp giảng dạy truyền thống như diễn dịch, thông báo, giải thích trước đây thường áp dụng một cách đơn điệu. Trong những phương pháp trước đây, chủ yếu là vai trò hoạt động của người thầy, thầy hướng dẫn về lý luận và các hoạt động thực tiễn, còn sinh viên nghe, ghi chép lời thầy giảng. Hiện tượng thầy đọc cho sinh viên ghi, đọc ghi cả những nội dung trong giáo trình, tài liệu dạy học là phổ biến trước đây thì nay đã rất hạn chế. Tất cả các hình thức dạy học đó đều lấy người thầy làm trung tâm, người thầy chuyển tải nhận thức đã có ở thầy, từ trong sách vở đến người học. Còn sinh viên chỉ là người tiếp nhận nên thiếu cơ hội nêu ý tưởng riêng, cách làm riêng của mình. Chính vì vậy khi lên lớp thầy chủ yếu là độc thoại, chỉ muốn nói những gì đã chuẩn bị và muốn sinh viên phải nhớ, phải thuộc những gì đã giảng, dẫn đến sinh viên lười biếng trong suy nghĩ và hành động, không đề cao được khả năng tư duy, độc lập, sáng tạo của mình. Các phương tiện kỹ thuật phục vụ dạy học như máy vi tính, máy chiếu xiên, băng, đĩa… đã được nhà trường quan tâm trang bị nhưng chưa được các giảng viên quan tâm sử dụng, chủ yếu sử dụng khi giảng duyệt hoặc dạy giỏi thì nay việc sử dụng đã trở thành thói quen, thường xuyên hơn.
Bên cạnh đó, việc sưu tầm, biên soạn tài liệu tham khảo phục vụ nghiên cứu, học tập của sinh viên chưa được quan tâm đúng mức. Nhiều môn học còn thiếu hoặc thậm chí không có tài liệu phục vụ việc nghiên cứu, học tập của sinh viên. Bởi vậy dẫn đến hậu quả sinh viên không cần nghiên cứu sâu, không cần đọc tài liệu, chỉ cần học những gì thầy giảng đã ghi chép được nên rất thụ động và có quá nhiều thì giờ nhàn rỗi làm ảnh hưởng đến chất lượng học tập và khả năng tư duy. Việc nghiên cứu, tổ chức các hình thức học tập có tính chất đề cao tư duy, tính độc lập, tính tự quản của sinh viên và các hình thức học tập ngoại khóa trong sinh viên tuy đã có chủ trương nhưng việc tổ chức và tiến hành chưa rộng khắp nên cũng ảnh hưởng đến sự hứng khởi trong học tập. Việc quan tâm rèn luyện tay nghề, khả năng thực hành, khả năng diễn đạt cho sinh viên cũng chưa được quan tâm, phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả và chất lượng công tác khi ra trường.
Tất cả thực trạng nêu trên, có nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng trong đó trách nhiệm chủ yếu thuộc về giảng viên, giảng viên chậm đổi mới, chưa quan tâm suy nghĩ, tìm tòi để ĐMPPDH. Chúng ta đều biết, ĐMPPDH là kết quả lao động sáng tạo trong thực hiện công tác chuyên môn của giảng viên, cho nên dù nói thế nào đi nữa thì nguyên nhân của những tồn tại nêu trên vẫn thuộc về giảng viên, đó là:
1- Ý thức trách nhiệm và kiến thức, năng lực sư phạm của một số giảng viên còn yếu, chưa quan tâm nghiên cứu, tìm tòi để có phương pháp giảng dạy tốt; chưa biết phối kết hợp giữa các phương pháp giảng dạy để phát huy ưu điểm của từng phương pháp trong quá trình giảng dạy.
2- Trình độ, năng lực chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức, năng lực thực tiễn của một vài giảng viên còn yếu, chưa nắm vững kiến thức chuyên môn nên không tự chủ trong giảng dạy, giảng dạy không thuyết phục, không có khả năng và không dám gợi mở, đi sâu vào vấn đề nóng bỏng mà xã hội và sinh viên quan tâm.
3- Vấn đề gắn liền lý luận với thực tiễn, nâng cao khả năng thực hành của sinh viên chưa cao, giảng dạy còn nặng về lý thuyết… Chúng ta chủ yếu là giảng dạy cho sinh viên biết: Nó là cái gì? Nó như thế nào? Phải làm cái gì?… chứ chưa quan tâm tạo cho sinh viên khả năng tư duy phải làm thế nào trước những tình huống có vấn đề và khả năng tự mình suy nghĩ tìm kiếm phương pháp tối ưu trong những tình huống cụ thể.
II. Phương hướng ĐMPPDH hiện nay ở Trường ĐHCSND
1. Về ý thức của giảng viên
Trước hết, đòi hỏi mỗi giảng viên phải có lòng say mê tìm tòi, tận tâm trong nghiên cứu khoa học và giảng dạy. Cảm nhận được vấn đề nghiên cứu khoa học và nâng cao chất lượng dạy học là nghĩa vụ và trách nhiệm của giảng viên, đây là một yếu tố chủ quan giữ vai trò quyết định đối với việc ĐMPPDH. Bởi vì, chỉ có thông qua nghiên cứu khoa học giảng viên mới có tri thức và nhận thức đúng đắn yêu cầu của công tác dạy học, những khó khăn và đòi hỏi của việc nâng cao chất lượng đào tạo.
Mỗi giảng viên phải tự mình nghiên cứu và tích cực trong học tập nâng cao trình độ, nhất là trình độ chuyên môn nghiệp vụ của mình có liên quan đến lĩnh vực giảng dạy nhằm nâng cao khả năng tư duy lý luận và tư duy thực tiễn của mình. Chỉ khi ý thức trách nhiệm và vai trò của giảng viên được đề cao sẽ giúp cho giảng viên ý thức sáng tạo, chủ động, tự tin trong giảng dạy. Ngoài ra, việc tăng cường mối quan hệ với các đơn vị nghiệp vụ ở Công an các địa phương, các vụ cục nghiệp vụ và những đơn vị thực tiễn có liên quan là đòi hỏi cấp bách để thu thập kiến thức, tài liệu thực tế phục vụ dạy học.
Chúng tôi cho rằng, ý thức giảng viên giữ vai trò quyết định trong ĐMPPDH nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. Vì vậy, mỗi giảng viên luôn phải tự mình rèn luyện nhân cách, có ý chí vươn lên trong cuộc sống và công tác. Phải có tinh thần trách nhiệm, sáng tạo trong công tác chuyên môn và bản thân phải nghiêm túc, có kỷ cương trong sinh hoạt và công tác vì sự phát triển đi lên của nhà trường.
2. Về nội dung ĐMPPDH
Đổi mới PPDH không đòi hỏi chúng ta phải tìm ra một phương pháp nào hoàn toàn mới mẻ, đặc thù mà chính là việc chúng ta nghiên cứu các phương pháp sẵn có, trên nền tảng phương châm giáo dục lấy người học làm trung tâm để lựa chọn cách thức giảng dạy phù hợp nhất. Theo chúng tôi, cần làm tốt những vấn đề sau đây:
- Giảng viên các khoa, bộ môn cần phối hợp các phương pháp giảng dạy khác nhau trong dạy học như diễn giảng, kết hợp với nêu vấn đề, sử dụng tình huống và các phương tiện khoa học kỹ thuật hỗ trợ. Không tuyệt đối hoá phương pháp nào để tránh giảng dạy đơn điệu một phương pháp, nhất là chỉ sử dụng phương pháp diễn dịch, giải thích hoặc lạm dụng phương tiện khoa học, kỹ thuật một cách thái quá dẫn đến sự nhàm chán. Việc sử dụng phương tiện khoa học, kỹ thuật và công nghệ thông tin là cần thiết trong ĐMPPDH, tuy nhiên cần phải hiểu rằng không phải cứ sử dụng phương tiện khoa học, kỹ thuật và công nghệ thông tin trong dạy học là ĐMPPDH. Cần khai thác triệt để các phương tiện khoa học kỹ thuật phục vụ giảng dạy như sử dụng máy tính để mô hình hóa giáo án, xây dựng biểu đồ, sơ đồ; minh họa bằng hình ảnh; làm videoclip các tình huống nghiệp vụ, tình huống có vấn đề, cũng như sưu tầm, biên tập phim minh họa cho bài giảng... điều cơ bản là làm tăng khả năng tư duy, sáng tạo của sinh viên mới là mục tiêu của ĐMPPDH.
- Tăng cường giảng dạy theo những tình huống có vấn đề, buộc sinh viên phải động não tìm ra phương án để giải quyết các tình huống đó. Quan tâm hướng dẫn sinh viên nghiên cứu tự học và chú ý kiểm tra sự chuẩn bị của sinh viên. Giảng viên thực sự chỉ là người hướng dẫn để sinh viên tư duy, học tập.
- Tăng cường hoạt động đối thoại, hỏi đáp giữa giảng viên và sinh viên trong giảng dạy nhằm khơi dậy tư duy nghiên cứu, tìm tòi và khả năng tự học của sinh viên. Hiện nay nhà trường đã tổ chức nối mạng nội bộ đến từng phòng học, phòng ở của sinh viên. Cho nên, mỗi giảng viên và các khoa, bộ môn cần khai thác triệt để mạng nội bộ để tăng cường trao đổi, đối thoại, giải đáp chuyên môn giữa thày và trò. Cần xây dựng các hộp thư của Tổ bộ môn, của từng giảng viên để thầy trò trao đổi thông tin, giải đáp thắc mắc và đối thoại với sinh viên về chuyên môn. Hằng ngày, trực ban đơn vị và các tổ của khoa, bộ môn phải thường xuyên mở hộp thư để báo cáo lãnh đạo có thẩm quyền nghiên cứu, giải đáp và đáp ứng yêu cầu của sinh viên. Bảo đảm mạng nội bộ thực sự là phương tiện, cầu nối giữa giảng viên và sinh viên.
- Các khoa, bộ môn cần thường xuyên sinh hoạt chuyên môn, quan tâm hướng dẫn giảng viên mới. Nghiên cứu, tìm tòi, xây dựng phương pháp giảng dạy có tính đặc thù của đơn vị mình để giúp cho giảng viên mới có điều kiện thuận lợi trong tiếp cận phương pháp giảng dạy môn học. Duy trì và phát huy mối quan hệ thường xuyên với Trung tâm thông tin khoa học và Tư liệu giáo khoa, với Phòng quản lý Nghiên cứu khoa học và khai thác triệt để mạng Internet trong việc khai thác thông tin đáp ứng yêu cầu nghiên cứu của giảng viên và sinh viên.
- Nhà trường tiếp tục xây dựng và trang bị phòng học có đủ điều kiện và phương tiện cần thiết để phục vụ giảng dạy có chất lượng. Các phương tiện phục vụ dạy học thiết yếu tiếp tục được tăng cường đầu tư nhất là máy chiếu xiên lắp đặt cố định trên phòng học. Đồng thời để tạo điều kiện cho giảng viên trẻ, nhà trường cần tiếp tục quan tâm hỗ trợ cho vay tiền mua máy tính xách tay phục vụ nghiên cứu, giảng dạy. Chỉ có như vậy, chúng ta mới có thể giúp cho giảng viên có điều kiện ĐMPPDH, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Trường ĐHCSND đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, giữ gìn trật tự an toàn xã hội của đất nước trong giai đoạn hiện nay./.
Trịnh Văn Thanh
(Đại tá, PGS, Tiến sĩ, Phó Hiệu trưởng - Trường Đại học CSND)

